Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

Bồ câu hầm Thuốc Bắc Hạt Sen - Bồi bổ cho cơ thể

Bồ câu hầm cho bà - vừa ngon vừa bổ 

Để nhanh chóng phục hồi sức khỏe, thể lực cho người mới ốm dậy, việc bồi bổ cơ thể với món chim bồ câu hầm thuốc bắc hạt sen là gợi ý tuyệt vời. Đây không chỉ đơn thuần là một món ăn bổ dưỡng mà còn là một bài thuốc duy trì sức khỏe an toàn trong Đông y.

Nếu nhà bạn có người vừa khỏi ốm nhưng cơ thể chưa phục hồi, vẫn còn mệt mỏi, yếu ớt, hãy dành thời gian chế biến món chim bồ câu hầm thuốc bắc hạt sen để bồi bổ cho người thân của mình nhé!
Bồ câu hầm thuốc bắc hạt sen
Món này tuy khá nhiều nguyên liệu nhưng hầu hết đều là những nguyên liệu dễ làm. Cách làm cũng đơn giản. Cùng vào bếp chế biến món ăn bồi bổ, chăm sóc sức khỏe cho người thân nhé!

Nguyên liệu:

- 2 con chim bồ câu

- 150g thịt nạc thăn xay

- 200g hạt sen

- 50g đậu xanh

- 50g gạo nếp

- 500g lá ngải cứu

- 200g táo tàu

- 1g kỷ tử, 50g thục

- 50g quy

- 100g ý dĩ

- Gia vị

Cách làm:

Trước tien các bạn làm các bước như hình sau:
Các bước thực hiên

- Làm sạch chim bồ câu, bỏ bộ lòng, rửa sạch. Chặt phần đầu, cổ, cánh chim bồ câu để riêng, còn lại giữ nguyên con.

- Bắc nước lên bếp, cho đầu, cổ, cánh chim bồ câu và kỷ tử, thục, quy, ý dĩ vào hầm lấy nước.

- Hạt sen rửa sạch, cho vào một nồi khác ninh mềm.

- Nhặt phần ngọn và lá ngon của ngải cứu, rửa sạch, luộc sơ rồi xào với dầu ăn và một ít gia vị.

- Cho hạt sen, nếp, đậu xanh, thịt nạc xay cùng táo tàu, thục, quy, ý dĩ, kỷ tử và lá ngải cứu vào tô trộn đều, nêm nếm gia vị cho vừa ăn.
Món bồ câu hầm thuốc bắc
Chúc các bạn làm thành công và có món ăn vừa miệng nhé!!!


Đặc điểm của một số loại chim bồ câu

Đặc điểm của một các loại chim bồ câu

Chim bồ câu co tổ tiên là chim bồ câu núi màu lam  hiện vẫn còn sống ở nhiều vùng núi châu Âu, châu Á và Bắc Phi. Bồ câu được người đưa về nuôi đầu tiên ở Ai Cập, cách đây khoảng 5000 năm.
- Hiện nay trên thế giới có khoảng 150 loài bồ câu, gồm bồ câu thịt, bồ câu đưa thư và bồ câu làm

cảnh. Chim bồ câu nhà tuy sống trong điều kiện nuôi dưỡng song vẫn mang những đặc điểm của bồ câu núi. Chúng thích sống theo đàn, ưa làm tổ trong hang hốc, con trống có động tác gù mái. Một năm chim đẻ nhiều lứa, mỗi lứa đẻ 2 trứng. Sau đó chim trống và chim mái thay nhau ấp trứng, khoảng 17-18 ngày thì trứng nở. Chim mới nở chưa mở mắt, trên thân chỉ mới có một ít lông tơ. Chim sơ sinh không thể tự kiếm mồi được mà được nuôi bằng một thứ sữa tiết ra ở diều của chim bố mẹ, do chim bố mẹ mớm cho, gọi là "sữa bồ câu".

Bồ câu Cam

Loài chim bồ câu có bộ lông sặc sỡ màu da cam, sống khá phổ biến trên các hòn đảo nhiệt đới tại Thái Bình Dương. Thức ăn chủ yếu của chúng là các loại quả cây.
Bồ Câu Cam-Green Pigeon-Stock-Dove

Bồ câu Đưa Thư

-  Là loài bồ câu bay giỏi, có thể đạt tốc độ 100km/h và bay lâu hàng trăm ki-lô-mét không nghỉ. Khi ở dưới đất chim đi lại chậm chạp và vụng về. Nếu được tập luyện, chúng có thể nhớ đường về khi cách xa chỗ ở tới 1300km.

- Lịch sử bồ câu đưa thư có từ rất lâu. Từ thời Cổ đại, người Ai Cập, La Mã, Hi Lạp đã biết dùng bồ câu để thông tin liên lạc. Ngày nay, mặc dầu các phương tiện thông tin rất phát triển và hiện đại, nhưng hàng triệu chim bồ câu vẫn được dùng làm “nhân viên bưu điện” ở nhiều nơi, thậm chí ngay ở cả các nước phát triển như Anh, Mĩ. Bồ câu đưa thư là phương tiện nhanh nhất, tiện lợi nhất khi cần chuyển tin ngắn giữa các thành phố trong một nước, trong trường hợp các phương tiện chuyên chở trên mặt đất bị ách tắc, trì trệ, hoặc trong hoàn cảnh bị bao vây trong chiến tranh.
Hình ảnh chim bồ câu đang bay

Bồ câu Lữ Hành

- Bồ câu lữ hành đã từng là loài chim di cư phổ biến nhất trên trái đất. Hàng ngàn triệu chim bồ câu lữ hành hợp thành đàn khổng lồ, bay đen kịt cả bầu trời Bắc Mĩ. Nhưng con người đã tàn sát chúng. Người ta ước tính mỗi năm có khoảng 1.200.000 con bị tiêu diệt.
Trong những năm 70 của thế kỉ 19, có hàng nghìn, hàng nghìn con người suốt ngày chỉ chăm chú làm một việc độc nhất là nạp đạn, bắn vào lũ bồ câu, rồi lại nạp đạn, bắn tiếp, thậm chí, họ còn dùng cả đại bác để tiêu diệt bồ câu.
- Những con bồ câu lữ hành cuối cùng mà nhân loại biết là hai con trống và một con mái tên là Mác-ta sống trong vườn thú Xin-xin-na-ti ở bang Ô-hai-ô (Mĩ). Mặc dù được sống trong sự chăm sóc, yêu thương nhưng hai con trống vẫn chết trước, Mác-ta sống gắng thêm được 4 năm nữa, cuối cùng cũng ra đi vào ngày mồng 1 tháng 9 năm 1914. Mác-ta chết thì loài bồ câu lữ hành cũng hoàn toàn bị xoá sổ trên trái đất.
Bồ Câu Lữ Hành-Passenger-Pigeon-Homer

Bồ câu Nâu

- Loài chim cỡ trung bình, dài khoảng 40cm. Đỉnh đầu và gáy màu trắng nhạt; da trần quanh mắt màu đỏ tím; bộ lông màu nâu tối. Phần trên lưng và hai bên cổ phớt xanh lá cây. Đuôi màu đen nhạt. Bồ câu nâu là loài định cư, số lượng không nhiều, sống ở các khu rừng nguyên sinh và thứ sinh thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Quảng Trị, Huế, Di Linh, Lâm Đồng... Mùa sinh sản từ tháng 6-7, mỗi con chỉ đẻ 1 trứng.
Bồ Câu Nâu-Pale-Capped Pigeon
Ngoài ra chúng ta con nhiều Bồ câu chúng ta cùng nhau tìm hiểu tiếp


Thứ Tư, 25 tháng 3, 2015

Chuồng nuôi bồ câu Pháp

Xây dựng chuồng trại cho chim bồ câu Pháp

Chuồng nuôi chim bồ câu Pháp theo kểu nhốt














* Trại nuôi: sạch sẽ, khô ráo, thoáng mát, yên tĩnh, tránh gió lùa, tránh mưa, có ánh nắng mặt trời chiếu vào đảm bảo có độ sáng nhất định.
 * Chuồng nuôi: Bao gồm các ô liên kết với nhau tạo thành một dãy chuồng nuôi nhưng giữa các ô nuôi phải có sự phân cách với nhau. Mỗi một đôi chim trống mái sinh sản được nuôi trong một ô chuồng. Kích thước của một ô chuồng tốt nhất phải đạt chiều cao: 50 cm, chiều rộng: 50 cm, chiều sâu: 60 cm. Có thể thiết kế chuồng nuôi thành nhiều tầng để sử dụng triệt để diện tích của Trang trại, (nhưng tốt nhất là thiết kế chuồng nuôi 2 tầng để thuận tiện cho việc chăm sóc và tránh ô nhiễm cũng như đảm bảo sức khỏe cho người chăn nuôi). Giữa các tầng cần có khoản trống để lấy phân (thường 15 cm là được).
 * Ổ đẻ:
- Ổ đẻ có thể làm bằng gỗ, chất dẻo,……
- Kích thước của ổ:
+ Đối với ổ chữ nhật:               Cao   10-12 cm
                                                Dài    25 cm
                                                Rộng 20 cm
+ Đối với ổ hình tròn:             Đường kính: 20-25cm
                                                Cao: 7-8 cm
- Mỗi ô chuồng nuôi cần có 2 ổ (Một ổ chính và một ổ phụ). Ổ chính được đặt lên trên cách mặt sàn khoản chừng 20-25 cm, ổ phụ đặt dưới mặt sàn. Khi chim con được nuôi trên ổ chính khoản 10-12 ngày là có thể cho xuống ổ phụ, ổ chính sẽ được vệ sinh sạch sẽ chuẩn bị cho lứa trứng tiếp theo.
- Ổ đẻ phải sạch sẽ, khô ráo, vệ sinh sau mỗi lứa.
* Máng ăn, máng uống: Mỗi ổ chuồng nuôi phải có máng ăn, máng uống, máng đựng thức ăn bổ sung. 
 * Vệ sinh trang trại: Lấy phân, vệ sinh, phun thuốc sát trùng chuồng trại tối thiểu mỗi tháng một lần (khuyến cáo tốt nhất là 7 ngày vệ sinh một lần nhằm giảm thiểu tối đa các mầm bệnh phát sinh, đặc biệt là trong những đợt giao mùa)

Dựa theo hướng dẫn trên các bạn có thể làm cho nhà mình kểu chuồng để nuôi chim bồ câu cho tốt đạt năng xuất cao. Chúc các bạn thành công.

Kỹ thuật chăm sóc chim bồ câu Pháp

Kinh nghiêm nuôi và chăm sóc chim bồ câu Pháp


Để chim bồ câu Pháp chúng ta nuôi có thể đạt năng xuất cao như mong muốn của mọi người cần phải có một kỹ thuật chăm sóc và đúc kết những kinh nghiệm của nhiều người. Sau đây tôi xin chia sẽ kinh nghiệm mà tôi được biết cho mọi người cùng xem:
Chim bồ câu Pháp giống














1. Cho ăn

- Thời gian: 2 lần trong ngày, buổi sáng lúc 7h - 9h, buổi chiều lúc 14h -15 h, nên cho ăn vào một thời gian cố định trong ngày.
 - Định lượng: Tuỳ theo từng loại chim mà chúng ta cho ăn với số lượng thức ăn khác nhau, thông thường lượng thức ăn = 1/10 – 1,2/10 trọng lượng cơ thể:
- Chim dò (2-5 tháng tuổi): 40-50g thức ăn/con/ngày:
 - Chim sinh sản: (6 tháng tuổi trở đi)?
   + Khi nuôi con: 125-130g thức ăn/đôi/ngày
   + Không nuôi con: 90-100g thức ăn/đôi/ngày
- Lượng thức ăn/đôi sinh sản/năm: 45-50kg

2. Cho uống

  - Nguồn nước uống yêu cầu phải sạch sẽ, không bị ô nhiễm. Nên dùng nước từ giếng khoan, giếng đào sâu, không được dùng nước uống lấy từ sông, kênh mương.
    - Luôn luôn đủ nước cho chim uống. Nhu cầu nước uống đối với chim bố mẹ trong giai đoạn nuôi con là rất lớn, trung bình mỗi ngày là từ 500ml – 750ml/ngày. Nếu thiếu nước, chim con sẽ chậm phát triển và suy dinh dưỡng vì bố mẹ không cung cấp đủ thức ăn cho chim con. (nên lưu ý, để chim bố mẹ sú cho chim con ăn thì đòi hỏi phải có nước mới sú đươc).
  - Nếu thời gian của bạn bận rộn, thì tốt nhất là bạn nên chọn máng uống có thể tích chứa được khoản 500ml nước. Như vậy sẽ tiết kiệm được thời gian cho chim uống nước.
  - Điều quan trọng nữa là bạn tuyệt đối không được để nước dư thừa trong máng uống quá 5 ngày vì nước sẽ bị bẩn với các lý do sau: phân chim, bụi bẩn bay vào; khi chim uống nước có một ít lượng thức ăn bị trào ra máng uống. Khi không thay nước mới và vệ sinh máng uống  thì trong thời gian dài điều đó sẽ là môi trường thuận lợi để các loại bào tử, vi khuẩn sinh sôi trong máng uống mà nhất là vi khuẩn E.Coli gây bệnh tả ở bồ câu.
    Bên cạnh đó cũng có những trường hợp cần lưu ý là một số cặp bồ câu có thói quen vãi phân vào máng uống, cho nên cần lưu ý thay nước hằng ngày đối với những cặp đặc biệt đó.

3.Chăm sóc:

a) Chuẩn bị trước khi đẻ:

    - Thường chúng ta đợi đến khi chim đã đến thời kỳ đẻ mới tiến hành làm ổ cho chim, điều này không tốt. Vì vậy ta nên lót ổ đẻ cho chim càng sớm càng tốt bởi các lý do sau:
            + Thứ nhất: Lót ổ sớm sẽ tập cho chim quen dần với ổ và lên ổ.
            + Thứ hai: Tránh được tình trạng chim mái đẻ trứng dưới sàn. Một khi chim đã đẻ dưới sàn thì trứng đó xem như là bỏ và thật khó khăn để tập cho chim lên ổ đẻ.
    - Chọn ổ đẻ: có nhiều cách thức lựa chọn ổ đẻ nhưng theo kinh nghiệm thực tế, bà con tốt nhất là tự làm lấy ổ đẻ cho chim hình chữ nhật với kích thước: cao 10-12 cm, rộng 20 cm, dài 25cm (nguyên liệu dễ tìm nhất đó là làm bằng gỗ).
         + Phần lớn bà con dùng ổ đẻ sẵng có là những rổ bằng nhựa (tròn hoặc chữ nhật). Với những loại ổ đẻ này, khi lót rơm vào ổ, chắc chắn chim sẽ làm rơi vãi ra ngoài ổ, nguyên nhân: Chim có tập tính máy ổ trước khi đẻ, cho nên đối với rổ bằng nhựa, việc máy ổ sẽ rất khó khăn, rơm sẽ bồng bềnh lên chứ không xếp xuống được, và đó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng chim rỉa rơm vãi ra ngoài tổ.
           + Nếu bà con lựa chọn phương án lót một ít bìa giấy vào ổ thì dễ dẫn đến tình trạng trứng thiếu nhiệt độ và tỷ lệ trứng vỡ rất cao.
           + Nếu bà con đã đầu tư rổ nhựa làm ổ đẻ rồi thì bà con làm theo cách sau đây để giảm thiểu tối đa việc vãi rơm ra khổi tổ: Bà con dùng rơm cọng dài, đan theo kiểu tóc đuôi sam (thắt rít) sao cho độ dài bằng với độ rộng bên trong của ổ đẻ và đường kính (to) khoản từ 2-3cm và tạo thành một vòng rơm. Sau đó bà con lót rơm vào ổ rồi tiến hành lấy vòng rơm đặt lên trên đồng thời ấn nhẹ xuống là được.

b) Thời kỳ đẻ và ấp trứng:

    - Khi chim đẻ lứa trứng đầu tiên, bà con đẻ cho chim bố mẹ ấp khoản 5 ngày là tiến hành bỏ đi để chim đẻ lại lứa trứng tiếp theo. Vì lứa trứng đầu tiên 80% là trứng nhỏ hoặc không thụ tinh nên cần bỏ đi để thứ nhất tiết kiệm chi phí, thứ hai là tạo kích thích mắng đẻ ở chim.
    - Chim đẻ 2 trứng cách nhau từ 1-2 ngày. Khi chim đẻ trứng thứ nhất, bà con tiến hành ghi chép lại ngày đẻ để tiện theo dõi trứng, soi trứng và canh chừng ngày trứng nở.
    VD: Chim bắt đầu đẻ trứng thứ nhất vào ngày 2/5 dương lịch, bà con ghi chép như sau:
2/5 – 10/5 – 20/5
            + Ngày 2/5 là ngày đẻ
            + Ngày 10/5 là ngày soi trứng.
            + Ngày 20/5 là ngày xem chừng trứng sẽ nở.
    - Khi chim ấp trứng, bà con nên hạn chế việc lấy trứng ra khỏi ổ, chỉ khi nào cần soi trứng mới lấy ra thôi. Đang ấp trứng, không nên thay rơm mới vào ổ, chim sẽ bỏ trứng không ấp.
    - Để cho chim ấp trứng một cách có hiệu quả, bà con không gây tiếng ồn quá lớn, chó – mèo không nên cho vào chuồng.

c) Soi trứng:

    - Chim ấp trứng khoản 8 ngày là bà con có thể soi trứng đẻ xem trứng có nên hay không.
               + Trứng nên: khi soi bằng đèn pin vào trứng ta sẽ thấy phôi trứng hình thành có màu sẫm kết chặc với vỏ trứng, thấy đường gân máu xuất hiện. Nhìn bên ngoài vỏ trứng lán mịn và có màu hơi sẫm.
            + Trứng hư: Khi soi đèn pin vào không thấy dấu hiệu phôi, gân máu, mà chỉ thấy lòng đỏ của trứng. Võ trứng bên ngoài trong giống như trứng mới đẻ.
Đó là đối với trứng không được thụ tinh. Nhưng gặp trường hợp trứng thụ tinh (có cồ) mà vẫn hư (gọi là chết phôi) thì khi soi ta thấy phôi thai không gắn kết với vỏ trứng mà trộn lẫn với tròng trắng của trứng, xoay quả trứng ta thấy phôi chết chạy tròn theo, lắc lắc quả trứng ta sẽ nghe được âm thanh ột ột của trứng.
    - Việc soi trứng hết sức quan trọng. Biết được trứng hư, ta loại bỏ ngay để cho chim mẹ chóng đẻ lại (nếu trứng hư mà ta không soi để loại bỏ thì chim bố mẹ sẽ ấp cho đến khoản 20 ngày rồi tự bỏ trứng thì điều đó sẽ làm lãng phí thức ăn của 12 ngày)

d) Canh chừng trứng nở:

    - Thông thường khi nhiệt độ ấp ổn định thì khoản 18 ngày chim sẽ nở trứng thứ nhất, trứng thứ 2 sẽ nở cách trứng thứ nhất từ 1-2 ngày, hoặc nhiệt độ không ổn định thì ngày trứng nở sẽ giao động trong khoản từ 17-20 ngày.
    - Khi đã nở trứng thứ nhất, trứng thứ hai sẽ nở sau. Cần phải lưu ý một điều là trứng thứ hai sẽ gặp phải những khó khăn khi nở, đó là:
            + Vỏ của trứng thứ nhất sau khi nở sẽ ụp vào trứng thứ hai, làm cho chim non trong trứng thứ hai khó tách vỏ chui ra ngoài, điều này sẽ dẫn đến chim con bị chết ngạt. (báo với bà con một tin vui là xác suất của trường hợp này là rất thấp)
            Biện pháp hạn chế: Sau khi trứng thứ nhất đã nở, bà con đánh dấu theo dõi, nếu sau 2 ngày mà trứng thứ hai không tách vỏ ra ngoài (trong trường hợp là chim non đã ghảy mỏ trứng) thì bà con hoàn toàn có thể phụ tách vỏ trứng cho chim non ra ngoài. Còn nếu như trứng thứ hai không thấy ghảy mỏ trứng thì được xem như là hoàn toàn đã chết (chết phôi trong trứng).
Nên lưu ý rằng, chỉ sau 2 ngày tính từ trứng thứ nhất nở thì việc phụ bóc vỏ cho trứng thứ hai mới thành công, nếu bóc sớm dù chỉ 1 ngày thôi thì coi như là không thành công, chim non sẽ chết.
            + Nhiệt độ tăng lên đột ngột (đặc biệt là trong mùa nắng nóng) sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chim non còn trong trứng thứ 2. Mặc dù đã khảy mỏ trứng, nhưng nhiệt độ tăng cao cũng làm cho chim non trong trứng thứ hai chết ngạt.
            Biện pháp hạn chế: tương tự như biện pháp trên.
            + Yếu phôi do thiếu dinh dưỡng, chim non không đủ mạnh để bóc tách vỏ trứng ra ngoài.
            Biện pháp hạn chế: cung cấp thêm các dưỡng chất khác như muối khoáng, vitamin, khoáng vi lượng, sỏi. Đặc biệt là vào mùa nắng nóng, bà con bổ sung vitmin C, K, các vitamin điện giải cho chim.

e) Ghép trứng, ghép con:

    - Không phải lúc nào 2 trứng sau khi ấp đều nở 2 con như ta mong đợi. Có ổ thì 2 trứng mà chỉ có một trứng nên, có ổ thì 2 trứng đều có phôi nhưng khi nở thì chỉ được có một con thôi. Nếu ta cứ để chim bố mẹ ấp trứng một hoặc nuôi con một thì sẽ không mang lại hiệu quả kinh tế cao. Chính vì vậy bà con cần phải tiến hành ghép trứng, ghép con ngay khi có thể
            + Ghép trứng: 2 trứng ở hai ổ khác nhau được ghép với nhau về một ổ thì điều kiện là 2 trứng đó đẻ cách nhau từ 1-2 ngày.
            + Ghép con: 2 con ở hai ổ khác nhau được ghép với nhau về một ổ thì điều kiện là 2 con đó nở cách nhau từ 1-3 ngày.
    - Cũng có thể bà con ghép tối đa được 3 trứng hoặc tối đa ghép được 3 con. Nhưng thể trạng của chim con lớn lên sẽ không được tốt, tùy theo nhu cầu mà bà con có thể áp dụng hình thức này.
            + Nếu chim con chỉ để bán ra ràng thì bà con có thể ghép được.
            + Nếu chủ định để giống, bán giống thì không nên áp dụng.
           
            * Chú ý: riêng đối với việc ghép 3 trứng về 1 ổ cho ấp thì theo kinh nghiệm thực tế Đoàn Vũ tôi khuyến cáo bà con không nên áp dụng vì xác suất thành công rất là thấp. Tốt nhất bà con chỉ nên ghép 2 trứng thôi, còn ghép con thì bà con hoàn toàn có thể ghép được tối đa 3 con về 1 ổ để nuôi.

f) Tách chim con xuống ổ phụ:

    Sau khi chim non đã nở được khoản 10-14 ngày tuổi, bà con tiến hành tách chim non xuống ổ phụ, thay rơm mới ổ chính để chuẩn bị cho lứa đẻ tiếp theo.
Ý nghĩa của việc tách chim non xuống ổ phụ: việc tách chim non xuống ổ phụ, ổ chính hoàn toàn trống sẽ kích thích chim mái đẻ lại trong thời gian sớm nhất.

g) Vệ sinh ổ đẻ:

    Sau mỗi lứa chim non, khi tách xuống ổ phụ, bà con tiến hành vệ sinh ổ đẻ và thay rơm mới lại. Việc vệ sinh ổ đẻ sẽ tránh sự tích tụ phân trong ổ vì đó là nơi lý tưởng cho ký sinh trùng, vi khuẩn và virus gây bệnh ở chim, đặc biệt là bệnh đậu trái vào thời kỳ giao mùa. Bên cạnh đó cũng cần phải vệ sinh sạch sẽ ổ phụ sau mỗi lứa chim con.

h) Tách chim con ra khỏi mẹ:

    * Đối với chim non bán ra ràng: tùy theo khả năng nuôi con của chim bố mẹ, tùy theo thể trạng của chim non và tùy theo nhu cầu của thị trường mà bà con có thể bán chim thịt trong khoản thời gian từ 15-20 ngày sau khi nở.
    * Đối với chim non để giống:
    - Sau khoản thời gian chim non được bố mẹ nuôi từ 28-30 ngày thì chim non có dấu hiệu bắt đầu theo mẹ thò đầu ra ngoài máng ăn. Để chim non tập ăn với mẹ khoảng  3-5 ngày là bà con có thể tách ra khỏi mẹ và cho vào lồng nuôi riêng biệt giành cho chim hậu bị.
    - Vì chim non mới tập ăn, bà con cần lưu ý chế độ ăn hợp lý để chim non phát triển khỏe mạnh và giảm thiểu các bệnh có thể sảy ra.
            + Chế độ ăn: chọn những loại thức ăn dễ tiêu hóa, bổ sung Vitamin, khoáng vi lượng, men tiêu hóa vào nước uống để chống mềm xương, trợ giúp tiêu hoá và chống các bệnh khác.
            + Chế độ chăm sóc: thường xuyên theo dõi tình trạng sức khỏe của chim, khi phát hiện thấy dấu hiệu chim non không được lanh lợi, đứng một chổ rù đầu, xệ cánh, không chịu ăn, thì bà con tiến hành ngay việc tách riêng ra để chăm sóc và điều trị.



Bệnh nấm ở chim bồ câu

Chim bồ câu mắc bệnh nấm đường tiêu hóa

Nấm mọc trong miệng













Nguyên nhân:

      Khi có vấn đề bệnh tật đối với bồ câu, điều đầu tiên người nuôi luôn cho là dấu hiệu của những vấn đề phổ biến hơn như bạch hầu, cầu trùng, nhiễm giun, phó thương hàn, hô hấp, Virus Adeno hoặc E-Coli. Nhiều người sẽ nhanh chóng sử dụng kháng sinh. Điều này có thể tiêu diệt các vi khuẩn đường ruột ruột khỏe mạnh, tăng cơ hội cho vi trùng xấu. Khi sử dụng kháng sinh quá liều có thể gây ra một tình trạng có tên là Candida, một dạng nhiễm trùng men ở diều và ruột.

Triệu chứng:

-     Đốm trắng nhỏ trong cổ họng (thường bị nhầm lẫn với bệnh bạch hầu)
-     Ăn kém
-     Giảm cân
-     Diều đầy nước
-     Thường xuyên nôn mửa, có mùi rất hôi
-     Sút lông ở chim trưởng thành

Phòng bệnh:

-     Vệ sinh chuồng nuôi.
-     Tránh quá tải trong căn cứ dẫn tới bồ câu bị căng thẳng.
-     Sử dụng kháng sinh 1 cách hiệu quả, chính xác.

Điều trị:

Sử dụng các loại men tiêu hóa, chất điện giải để giảm căng thẳng cho chim.

Chúc các bạn thành công!!

Bệnh giun ở bồ câu Pháp

BỆNH GIUN ĐŨA Ở BỒ CÂU PHÁP

Bệnh phân bố hầu hết trên tất cả các khu vực trên thế giới
Bệnh ở chim bồ câu

1. Nguyên nhân:

Giun đũa Ascallidia columbae (Gmelin, 1970) là tác nhân gây bệnh giun đũa ở bồ câu.
Vật chủ: Bồ câu
Đặc điểm sinh học
- Nơi ký sinh: diều, ruột non, đôi khi ở thực quản.
- Hình thái: giun cái dài 20-95mm. Giun đực dài 50-70mm, có hai gai giáp hợp không dài bằng nhau: 1,2-1,9mm.
- Vòng đời: giun phát triển trực tiếp, không có vật chủ trung gian, giun cái ký sinh ở ruột non, đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài gặp các điều kiện thích hợp (có oxy, ẩm độ, nhiệt độ từ 15-300C) có sẽ phát triển thành ấu trùng trong trứng, gọi là trứng cảm nhiễm. Chim ăn phải trứng cảm nhiễm, trứng vào dạ dày tuyến và ruột non của chim sẻ nở thành ấu trùng. ấu trùng qua niêm mạc di chuyển lên gan, phổi, sau lại trở về ruột, phát triển thành giun trưởng thành. Từ trước cảm nhiễm phát triển thành giun trưởng thành, thời gian cần 37 ngày.
Tác hại của giun:
Giun ký sinh ở ruột non, chiếm đoạt chất dinh dưỡng làm cho chim gà còm, giảm tăng trọng. Khi số lượng nhiều, giun sẽ di chuyển gây tổn thương niêm mạc và gây tắc ruột. ấu trùng của gin khi di chuyển lên phổi và gan sẽ gây tổn thương ở đó và gây ra viêm nhiễm.

2. Điều trị

Có thể tẩy giun bằng một trong hai hoá dược sau:
- Piperazin adipinat: Dùng liều 0,30g/kg thể trọng trộn với thức ăn cho chim ăn. Sau khi dùng thuốc, giun sẽ ra ngoài sau 3-5 giờ.
- Mebendazol: Dùng liều 0,10g/kg thể trọng; chia 2 lần trộn với thức ăn cho chim ăn. Giun sẽ ra khỏi ruột 4-6 giờ sau khi tẩy.

3. Phòng bệnh:

- Tẩy định kỳ cho toàn đàn chim: 4-6 tháng/lần bằng piperazin.
- Thực hiện vệ sinh chuồng trại và môi trường sống của chim.

BỆNH GIUN Ở DIỀU

1. Nguyên nhân

Tác nhân gây bệnh Epomidiostomum uncinatum (Lundhal, 1841).
Vật chủ: Bồ câu, vịt, ngỗng
Đặc điểm sinh học
- Vị trí ký sinh: niêm mạc của diều.
- Hình thái: Giun đực: 6,5-7,3mm x 150 micromet. Gai giao hợp dài 120-190 micromet. Giun cái 2,0-11,5mm x 230-240 micromet. Đuôi dài 140-170 micromet. Trứng: 74-90x45-50 micromet.
- Vòng đời: Giun phát triển trực tiếp không có vật chủ trung gian. Trứng ra ngoài tự nhiên phát triển thành ấu trùng giai đoạn III sau khi nở 4 ngày, có thể cảm nhiễm cho bồ câu.
Tác hại: Giun ký sinh gây ra tổn thương ở diều của chim, có thể gây viêm diều do nhiễm khuẩn thứ phát.

2. Điều trị

Tẩy giun bằng piperazin adipinat: Liều dùng 0,3g/kg thể trọng: trộn thuốc với thức ăn hoặc cho uống trực tiếp.

3. Phòng bệnh

Quy trình phòng bệnh giống như phòng bệnh giun đũa.

GIUN MẮT BỒ CÂU 

1. Nguyên nhân

Tác nhân gây bệnh làm giun Oxyspirura mansoni (Cobvold 1879)
Vật chủ: Bồ câu, gà, vịt, gà tây, chim cút, gà tiên.
Đặc điểm sinh học
- Vị trí ký sinh: Kết mạc mắt.
- Hình thái: giun đực có kích thước: dài 8,2-16mm, rộng 350 micromet. Gai giao hợp 3-4,5mm. Giun cái có kích thước: dài 12-20mm; rộng 270-430 micromet. Trứng 50-65 x 45 micromet.
- Vòng đời: Giun có vật chủ trung gian là bọ hung Pycnoscelus, surinamensis. Giun cái sống ở kết mạc mắt, đẻ trứng, trứng theo các giọt nước mắt rơi vào môi trường tự nhiên. Bọ hung ăn phải trứng, trứng sẽ phát triển nhanh ấu trùng sau 50 ngày. Chim ăn phải ấu trùng từ bọ hung, sẽ bị nhiễm giun.
Tác hại
Giun ký sinh gây các tổn thương ở kết mạc mắt, gây viêm nhiễm. Nếu có nhiễm khuẩn thì những kết mạc có thể viêm mủ, làm hỏng mắt chim.

2. Điều trị

Dùng dung? dịch tetramisol (2-5%) nhỏ thẳng vào mắt chim. Giun sẽ chui ra khỏi mắt. Cũng có thể dùng kẹp nhỏ lấy giun từ mắt chim.

3. Phòng bệnh

- Kiểm tra phát hiện chim nhiễm giun để điều trị.
- Thực hiện vệ sinh phòng bệnh chuồng trại và môi trường sống của chim.

BỆNH GIUN TÓC (CAPILLARIOSIS)

1. Nguyên nhân

Giun tóc Capillaria obsignata (Madsen 1943)
Vật chủ: Bồ câu, gà, gà tây, ngỗng, gà sao, cút.
Đặc điểm sinh học
- Vị trí ký sinh: Ruột non, mạch tràng.
- Hình thái: Giun đực có kích thước dài 7-13x49mm; rộng 49-53 micromet. Gai giao hợp dài 1,1-1,5 micromet. Giun cái: dài 10-18mm; rộng 80 micromet. Trứng: 44-46x22-29 micromet. Giun có hai phần: phần đầu nhỏ dài khoảng 1/3 cơ thể chui vào niêm mạc của ruột; phần thân còn lại ở ruột của vật chủ.
- Vòng đời: Giun phát triển trực tiếp, không có vật chủ trung gian. ấu trùng phát triển trong trứng khoảng 13 ngày. Chim ăn trứng cảm nhiễm, trứng vào ruột nở ra ấu trùng. ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành khoảng 18-21 ngày.
Tác hại
Trong? quá trình ký sinh, giun chui đầu vào niêm mạc ruột gây tổn thương và viêm ruột do nhiễm khuẩn thứ phát.

2. Điều trị

Tẩy giun bằng piperazin adipinat: Liều dùng 0,3g/kg thể trọng; trộn với thức ăn hoặc cho uống trực tiếp.

3. Phòng bệnh

Thực hiện như phòng bệnh giun đũa, giun diều chim.

Các bệnh thường gặp ở bồ câu

MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở CHIM BỒ CÂU  

Quan trọng nhất trong việc chữa trị bệnh cho bồ câu là khâu CHẨN ĐOÁN. Chẩn đoán đúng thì việc chữa trị sẽ hiệu quả, nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian & tiền bạc. Để có thể hỗ trợ những người bắt đầu nuôi bồ câu, sau đây tôi xin giới thiêu cho các bạn một số bệnh thường gặp ở chim bồ câu mà thường xuyên bị

1. Loét miệng, bạch hầu - Canker, Trichomoniasis Canker.

Loét miệng ở chim bồ câu

Nguyên nhân:

Đây là bệnh phổ biến nhất do khuẩn Trichomonas. Là vi sinh vật đơn bào có hình roi, vì vậy nó rất cơ động. Nó có thể lây nhiễm từ 1 con bồ câu này sang con khác qua nước uống, từ chim cha mẹ sang chim con khi chúng mớm thức ăn. Thường chim con dễ bị hơn.

Triệu chứng:

-         Giảm hoạt động, lặp đi lặp lại động tác nuốt.
-         Xù lông, giảm cân, tăng lượng nước uống, tiêu chảy.
-         Các mảng màu vàng được tìm thấy trong vòm họng, miệng.
-         Trong giai đoạn khởi phát thường có mùi hôi.

Phòng chống:

-         Kiểm soát căng thẳng ở bồ câu bằng các loại thuốc giảm stress.
-         Duy trì cung cấp thực phẩm, vệ sinh máng ăn, uống thường xuyên.
-         Cách ly chim bệnh.

Điều trị:

Sử dụng các loại thuốc điều trị như:
-         Ronidazole (Ridzol)(DAC)
-         Metronidazole (Flagyl) (DAC)
-         B.S. (Belgica-DeWeerd)
-         Ronidazole 10% (Pantex)
-         Ronidazole 40 (Pantex)
-         5% Cure (Travipharma)

Trong điều kiện không kịp mua các loại thuốc thú y có thể mua thuốc Tây (sử dụng cho người tại các nhà thuốc): Metronidazole 250mg.
Liều dùng: Mỗi lần nửa viên, ngày 2 lần, sử dụng liên tục trong 3 ngày.

2. Cầu trùng - Coccidiosis.

Cầu trùng ở chim bồ câu
Nguyên nhân:

Đây là bệnh gây ra bởi sinh vật đơn bào, rất phổ biến & lây nhiễm cao, ảnh hưởng mạnh đến sức khỏe chiến binh. Chim trưởng thành bị nhiễm bệnh khi uống nước không sạch hoặc tiếp xúc với phân ẩm. Nhưng hầu hết chúng đã phát triển khả năng miễn dịch sẽ vẫn khỏe mạnh khi nhiễm bệnh.
Triệu chứng:

-         Chim bỏ ăn uống.
-         Giảm cân, tiêu chảy phân xanh.
-         Luời di chuyển. đậu trên sào & nhắm mắt.
Phòng chống:

-         Sử dụng các loại thuốc diệt khuẩn, nấm.
-         Giữ căn cứ sạch & khô.
-         Không để thức ăn tiếp xúc với phân & các loại động vật gặm nhấm, vệ sinh khử trùng máng ăn, uống. Không để bồ câu uống nước ở máng xối, vũng bùn.
-         Cách ly chim bệnh.
-         Hàng tuần khử trùng giỏ đựng gửi bồ câu.
Điều trị:

Sử dụng các loại thuốc điều trị như:
-         Multi-Mix (Global)
-         Dacoxine 4 in 1 (DAC)
-         Trimethoprim/Sulfa (DAC)
-         Coccimix (Pantex)
-         Cocci-Geel (Pantex)
-         Cocci-Mix 1 (Travipharma)

Trong điều kiện không kịp mua các loại thuốc thú y có thể mua thuốc Tây (sử dụng cho người tại các nhà thuốc): Cotriseptol 480.

Liều dùng: Mỗi lần nửa viên, ngày 2 lần, sử dụng liên tục trong 3 – 5 ngày

3. Viêm xưng 1 mắt - One-eyed Cold.

Viên xưng 1 mắt ở chim bồ câu

Nguyên nhân:

Thường bị nhầm lẫn với sự khởi đầu của mycoplasmosis (Mycoplasmosis là một thuật ngữ chung cho các bệnh truyền nhiễm gây ra bởi các vi sinh vật được gọi là vi khuẩn Mycoplasma). Bệnh viêm một mắt thường do mắt bị thương do chim đánh nhau hoặc bị thương vật lý ảnh hưởng đến mắt. Cũng có thể được gây ra bởi thông gió không đúng, bụi hoặc ẩm ướt trong căn cứ.

Triệu chứng:

Phổ biến nhất là dịch nhầy tiết ra ờ 1 bên mắt, đôi khi bị cả 2 mắt. Tùy vào mức độ nhiễm trùng, bồ câu có thể nhắm chặt 1 bên mắt.

Phòng chống:

-         Duy trì thông gió thích hợp.
-         Giữ vệ sinh căn cứ thông thoáng, sạch sẽ.
-         Không nên nuôi quá nhiều bồ câu trong diện tích chật hẹp.

Điều trị:

Sử dụng các loại thuốc điều trị như: Bio-gentadrop

Trong điều kiện không kịp mua các loại thuốc thú y có thể mua thuốc Tây (sử dụng cho người tại các nhà thuốc): thuốc mỡ tra mắt Tetracyclin 1%, Dexacol. Sử dụng thuốc tra kết hợp các loại thuốc uống kháng viêm, kháng khuẩn như Dorogyne, Alfachim 4.2mg (Chymotrypsin).
Liều dùng: Mỗi lần 1 viên, ngày 2 lần, sử dụng liên tục trong 2 ngày (hoặc đến khi mắt hết viêm xưng)

4. Phó thương hàn - Salmonellosis.

Thương hàn ở chim bồ câu

Nguyên nhân:

Đây là 1 bệnh khá phổ biến được gây ra bởi một loại vi khuẩn gram âm hình roi. Nó có thể lây nhiễm trong căn cứ thông qua bồ câu bị nhiễm bệnh, động vật gặm nhấm, do hít phải bụi bị nhiễm, trên đế giày chủ chim, gián, hoặc thông qua tiếp xúc với chim bồ câu hoang dã. Thường thì một con chim trưởng thành đã vượt qua căn bệnh này vẫn còn là một nguồn lây nhiễm và tiếp tục thải phân bị nhiễm bệnh.

Triệu chứng:

-         Sụt cân nhanh
-         Phân lỏng, màu xanh
-         Sưng các khớp chân hoặc bàn chân
-         "Cổ xoắn" hội chứng thường thấy ở bệnh PMV (Paramyxovirus)
-         Chim con thường thở dốc, chết sau khi nở 2tuần
-         Trứng chết

Phòng chống:

-         Vệ sinh kỹ khu vực nuôi.
-         Thường xuyên làm sạch máng và uống.
-         Ngăn ngừa tiếp xúc với động vật gặm nhấm, gián và các loài chim hoang dã.
-         Duy trì một mức độ pH acid của căn cứ dưới 4,0 thông qua việc sử dụng các chất khử trùng như Nolvasan hoặc phụ gia tương tự cho nước uống, giúp duy trì môi trường acid trong phân.
-         Thường xuyên tiêm chủng chống lại vi khuẩn Salmonella

Điều trị:

Sử dụng các loại thuốc điều trị như:
-         Vime - Apracin
-         Vimenro
-         Norflox 20 

Trong điều kiện không kịp mua các loại thuốc thú y có thể mua thuốc Tây (sử dụng cho người tại các nhà thuốc): Intasnor 400, Loravax.
Liều dùng: Mỗi lần nửa viên, ngày 2 lần, sử dụng liên tục trong 3 ngày.

5. Đậu, trái - Pigeon Pox.

Đậu trái ở chim bồ câu

Nguyên nhân:

Bệnh đậu (trái) do một loại virus thuộc nhóm Avipox gây ra. Bệnh lây truyền do bồ câu bị muỗi, côn trùng cắn.

Triệu chứng:

Khi chim bồ câu không có đề kháng bị côn trùng cắn, virus xâm nhập vào máu của chim. Trong vòng 5-7 ngày, những tổn thương nhỏ màu trắng giống như mụn cóc xuất hiện trên đầu, chân và các khu vực mỏ, mắt. Những nốt nhỏ có thể phát triển trở thành nốt lớn màu vàng, nếu loại bỏ, có thể rỉ máu. Theo thời gian, những mụn này sẽ khô và rụng đi khi chim đủ đề kháng.

Phòng chống:

-         Vệ sinh kỹ khu vực nuôi, kiểm soát ruồi, muỗi.
-         Tiêm ngừa cho bồ câu.

Điều trị:

-         Sử dụng vacxin đậu cho chim.

Trong điều kiện không kịp mua các loại thuốc thú y có thể mua thuốc Tây (sử dụng cho người tại các nhà thuốc): Thuốc sát trùng vết thương như: thuốc mỡ mắt Tetracyclin 1%, thuốc xanh Methylen, Betadyne. Thuốc uống: Lincomycin 500mg, Stadexmin.
Liều dùng: Mỗi lần nửa viên, ngày 2 lần, sử dụng liên tục trong 3 ngày.

Ngoài ra còn một số bệnh khác: (Kích để tham khảo)